KIẾN THỨC LỊCH VIỆT

Can Chi là gì? Cách gọi ngày, tháng và năm

Tìm hiểu 10 Thiên Can, 12 Địa Chi, chu kỳ 60 Can Chi và cách amlich.date xác định tên Can Chi của một ngày.

Cập nhật: 31/08/2026
Trả lời ngắn

Can Chi là hệ thống ghép 10 Thiên Can với 12 Địa Chi theo thứ tự để tạo chu kỳ 60 tổ hợp. Người Việt dùng Can Chi để gọi tên năm, tháng, ngày và giờ trong lịch truyền thống.

Mười Thiên Can và mười hai Địa Chi

Mười Can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quý. Mười hai Chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi.

  • Can luân phiên theo chu kỳ 10.
  • Chi luân phiên theo chu kỳ 12.
  • Khi ghép đồng thời, tổ hợp lặp lại sau 60 bước.

Can Chi của ngày được tính thế nào?

Ngày được chuyển thành số ngày Julian để có một trục ngày liên tục. Chỉ số Can và Chi được lấy theo phép chia dư trên trục này. Nhờ đó hai trang cùng sử dụng một ngày dương sẽ cho cùng kết quả Can Chi nếu dùng chung quy ước.

Can Chi tháng và năm

Can Chi năm gắn với năm âm lịch, nên thời điểm đổi tên năm không phải ngày 1 tháng 1 dương lịch. Can Chi tháng cũng đi theo tháng âm và Can của năm; tháng Giêng bắt đầu ở Chi Dần.

Can Chi dùng để làm gì?

Trong tra cứu lịch, Can Chi giúp định danh ngày và liên kết tới ngũ hành, nạp âm, giờ theo địa chi và các quy tắc hợp xung truyền thống. Những diễn giải hợp xung chỉ nên dùng như tài liệu văn hóa tham khảo.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao có 60 Can Chi mà không phải 120?

Can và Chi được ghép tuần tự với cùng tính âm dương, nên chu kỳ trở lại sau bội chung nhỏ nhất của 10 và 12 là 60.

Năm Can Chi đổi vào ngày nào?

Trong lịch âm, tên năm đổi vào Tết Nguyên Đán. Một số trường phái khác có thể dùng mốc Lập Xuân cho mục đích riêng, cần nói rõ quy ước.

Nguồn tham khảo

Phần ngày tốt xấu và phong thủy là diễn giải văn hóa tham khảo. Xem thêm phương pháp tínhchính sách biên tập.